Monday, June 30, 2008

Vitamin chống oxi hoá cải thiện các tổn thương trí nhớ cấp tính gây ra bởi bữa ăn ở người đái tháo đường type 2

Năm 2003 tác giả Greenwood công bố nghiên cứu cho thấy trí nhớ ở người đái tháo đường type 2 bị giảm sau bữa ăn giàu carbohydrate hấp thu nhanh - trong nghiên cứu này là nửa ổ bánh mì và nước nho trắng.

Mới đây, kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nutrition Research số tháng 7/2008 cho thấy người cao tuổi bị đái tháo đường type 2 dễ bị các vấn đề về trí nhớ sau bữa ăn nhiều mỡ, và các tổn thương này có thể được phục hồi nếu họ dùng các vitamin có tính chống oxi hoá cùng với bữa ăn không lành mạnh này.

Trong nghiên cứu này, Greenwood và sinh viên y khoa M. H. Chui đưa vào nghiên cứu 16 người từ 50 tuổi trở lên (trung bình 63,5 ± 2,1 tuổi) bị mắc đái tháo đường type 2. Đây là thử nghiệm không mù, trong đó những người tham gia được cho 3 bữa ăn thử nghiệm khác nhau, mỗi tuần một bữa. Bữa ăn thứ nhất chứa 3356 calo với hơn 50 g chất béo, hơn 63 g carbohydrate và hơn 25 g protein, gồm bánh bột táo và hạnh nhân phết kem Đan Mạch, phó mát cứng và sữa chua có kem. Bữa ăn thứ 2 chứa các thành phần như bữa ăn thứ nhất, nhưng người tham gia dùng thêm các viên vitamin liều cao: C (1000 g) và E (800 IU). Ở bữa ăn thứ 3, người tham gia chỉ dùng nước.

15 phút sau mỗi bữa ăn, những người tham gia hoàn thành một chuỗi các trắc nghiệm sinh lí thần kinh kéo dài 90 phút để đo lường trí nhớ ngôn ngữ muộn (nhớ những từ đã nghe và đoạn văn đã đọc) và trí nhớ tức thời (lặp lại các số theo cùng trình tự họ đã nghe, Digit-Span Forward). Các kĩ năng này liên quan đến trung tâm nhớ ở não - hồi hải mã.

So với người chỉ uống nước, người dùng bữa ăn giàu béo có điểm số các thử nghiệm trên thấp hơn. Dùng đồng thời các vitamin chống oxi hoá ngăn ngừa được các khiếm khuyết này, và kết quả không khác biệt so với bữa ăn chỉ có nước. Cùng lúc, các kết quả về nhận biết từ và nhận biết màu trong thử nghiệm Stroop cải thiện nhỏ nhưng đáng kể sau bữa ăn, dù có hay không có chất chống oxi hoá, so với nước; điều này cho thấy tính đặc hiệu của các tổn thương trí nhớ gây ra do bữa ăn. Chức năng điều hành nhận thức, được đánh giá qua các Trails Parts A và B, không khác biệt khi so sánh các bữa ăn với nhau. Như vậy sử dụng các vitamin chống oxi hoá ở người lớn tuổi bị đái tháo đường type 2 làm giảm thiểu tổn thương trí nhớ gây ra do bữa ăn; điều này cho thấy stress oxi hoá có thể là yếu tố góp phần gây các tổn thương này.

Tuy nhiên, nghiên cứu này cần được kiểm chứng thêm với số người tham gia nhiều hơn. Vai trò của các vitamin chống oxi hoá cần được làm rõ hơn để xem đây là tác dụng trực tiếp của chúng lên stress oxi hoá hay là chúng tạo hiệu quả tăng cường trí nhớ thông qua một cơ chế độc lập khác. Ngoài ra, có ý kiến cho rằng chế độ ăn này không điển hình và đặt câu hỏi liệu các vitamin này còn tác dụng trên bữa ăn điển hình hơn không.

Các tác giả của nghiên cứu này khuyến cáo rằng nên dùng một chế độ ăn lành mạnh hơn là dựa vào vitamin để phục hồi những tổn thương gây ra bởi chế độ ăn kém lành mạnh.

Nguồn: Nutr Res. 2008;28(7):423-429

Wednesday, June 25, 2008

Can thiệp dinh dưỡng sớm đối với các bệnh cơ địa ở trẻ sơ sinh và trẻ em

Các bệnh cơ địa bao gồm viêm da dị ứng, hen, viêm mũi dị ứng và dị ứng thức ăn là những bệnh mang tính cá nhân hoặc gia đình, với đặc trưng là người bệnh tăng sản xuất các kháng thể IgE để đáp ứng với kháng nguyên ở liều thấp, và được xác định thông qua kết quả của nghiệm pháp lẩy da. Cho đến nay các bằng chứng vẫn còn ít ỏi để đưa ra kết luận chắc chắn về một số khía cạnh của việc can thiệp chế độ ăn nhằm ngăn ngừa bệnh cơ địa. Mặc dù tính hiệu quả chưa được nghiên cứu đầy đủ qua các khảo sát về một số vấn đề như chế độ ăn kiêng trong khi mang thai và cho con bú, thời điểm áp dụng một số thực phẩm bổ sung đặc biệt, nhưng điều này không có nghĩa là các cách tiếp cận đó bị phản đối. Điều cần thiết là tiến hành thêm các nghiên cứu để xác định liệu có tác động âm tính hay dương tính lên các hậu quả của bệnh theo cơ địa.

Trong giới hạn của các nghiên cứu được thực hiện cho đến nay, chúng ta có thể tóm tắt một số bằng chứng đáng quan tâm:
  • Hiện nay vẫn còn thiếu các bằng chứng về việc kiêng một số loại thức ăn ở mẹ trong thai kì có vai trò quan trọng trong phòng ngừa bệnh cơ địa ở trẻ. Tương tự, việc tránh dùng một số kháng nguyên trong khi cho con bú cũng không dự phòng bệnh cơ địa, ngoại trừ khả năng dự phòng bệnh chàm thể tạng mặc dù cần thêm số liệu để chứng minh điều này.
  • Đối với các trẻ có nguy cơ cao mắc bệnh cơ địa, có bằng chứng cho thấy so với dùng sữa công thức chứa protein sữa bò nguyên vẹn, bú mẹ hoàn toàn trong ít nhất 4 tháng đầu làm giảm nguy cơ tích luỹ mắc bệnh viêm da cơ địa và dị ứng sữa bò trong 2 năm đầu đời.
  • Có bằng chứng cho thấy bú mẹ hoàn toàn trong ít nhất 3 tháng có tác dụng chống khò khè ở những năm đầu đời. Tuy nhiên, ở trẻ có nguy cơ mắc bệnh cơ địa, không có bằng chứng thuyết phục cho thấy bú mẹ hoàn toàn bảo vệ trẻ chống lại hen dị ứng xảy ra sau 6 tuổi.
  • Trong các nghiên cứu về trẻ sơ sinh có nguy cơ cao mắc bệnh cơ địa không được cho bú mẹ hoàn toàn trong 4 đến 6 tháng, hoặc được dùng sữa công thức, các bằng chứng vẫn còn khiêm tốn về tác dụng ngăn ngừa hoặc làm trì hoãn viêm da cơ địa khi dùng sữa công thức được thuỷ phân hoàn toàn hoặc một phần so với sữa bò nguyên. Các nghiên cứu so sánh các loại sữa đã thuỷ phân cho thấy không phải mọi công thức đều có lợi ích bảo vệ như nhau. Sữa công thức thuỷ phân hoàn toàn có thể hiệu quả hơn sữa thuỷ phân một phần trong ngăn ngừa bệnh cơ địa. Lợi ích của chúng về lâu dài ở trẻ lớn và vị thành niên cần được nghiên cứu thêm. Giá thành cao hơn của sữa công thức được thuỷ phân cần được xét đến khi ra quyết định sử dụng. Cho đến nay chưa có nghiên cứu về các sữa công thức dựa trên acid amin trong ngăn ngừa bệnh cơ địa.
  • Không có bằng chứng thuyết phục cho việc dùng sữa công thức dựa trên đậu nành nhằm mục đích ngăn ngừa dị ứng.
  • Mặc dù không nên cho trẻ thức ăn rắn trước 4 đến 6 tháng tuổi, không có bằng chứng thuyết phục rằng trì hoãn cho thức ăn rắn ngoài giai đoạn này có hiệu quả bảo vệ đáng kể trên sự phát triển của bệnh cơ địa cho dù trẻ được cho ăn với sữa công thức protein sữa bò hay sữa người. Điều này bao gồm cả việc trì hoãn cho các thực phẩm được xem là có tính dị ứng cao như cá, trứng và thực phẩm chứa protein đậu phộng.
  • Đối với trẻ sau 4 đến 6 tháng tuổi, không có đủ dữ liệu hỗ trợ tác dụng bảo vệ của bất kì can thiệp chế độ ăn nào lên sự phát triển của bệnh cơ địa.
  • Cần thêm nghiên cứu đánh giá hiệu quả lâu dài của can thiệp chế độ ăn ở độ tuổi nhũ nhi nhằm ngăn ngừa bệnh cơ địa, đặc biệt ở trẻ hơn 4 tuổi và ở người lớn.
  • Các kết luận bên trên trình bày các biện pháp ngăn ngừa hoặc làm trì hoãn các bệnh cơ địa thông qua chế độ ăn. Đối với trẻ đã mắc một bệnh cơ địa được gây ra hoặc thúc đẩy bởi protein ăn vào (qua sữa mẹ, sữa công thức, thực phẩm bổ sung), điều trị có thể cần xác định và hạn chế đặc hiệu protein nguyên nhân.
Theo Pediatrics. 2008; 121:183-191

Saturday, June 14, 2008

Mở đầu: Dinh dưỡng y học và Y học dinh dưỡng

Khi tạo trang blog này, tôi nghĩ đến sự lựa chọn giữa 2 tên: Dinh dưỡng y học hay là Y học dinh dưỡng. Y học dinh dưỡng (nutritional medicine) được nhiều người xem là một ngành y học thay thế (alternative medicine) hay y học bổ sung (complementary medicine) nằm trong triết lí chăm sóc sức khoẻ toàn diện (holistic health). Điều này có vẻ rộng lớn, cho nên tôi định sẽ tập trung chính về các vấn đề ứng dụng dinh dưỡng trong y học, tức dinh dưỡng với ý nghĩa là một chuyên ngành của y học truyền thống (conventional medicine) hơn. Do đó tên gọi Dinh dưỡng y học (medical nutrition) đã được chọn.

Nhưng ngẫm đi nghĩ lại, liệu có sự khác biệt giữa hai thuật ngữ này không nhỉ? Rừng không phải là biển, biển không phải là rừng? Hay rừng cũng là biển, biển cũng là rừng? Hay rừng chỉ là rừng, biển chỉ là biển?